Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

Quy định về “lãnh thổ lạ lẫm Hải quan” là cần thiết.

Do đó, Bộ Tài chính yêu cầu được giữ như Dự thảo

Quy định về “lãnh thổ Hải quan” là cần thiết

Trong điều kiện hội nhập kinh tế của nước ta, nội dung quy định này nhằm khẳng định quyền chủ quyền của quốc gia ta về thương chính tại những khu vực như trên là cần thiết.

Tại những nơi đó Luật hải quan được ứng dụng để điều chỉnh những vấn đề có can hệ đến thương chính. Thành thử, Bộ Tài chính cũng đề nghị được giữ như Dự thảo. Phạm vi bổn phận phòng, chống buôn lậu  ý kiến của đại biểu Quốc hội cho rằng quy định lực lượng thương chính đấu truy đuổi để ứng dụng các biện pháp ngăn chặn và xử lý theo quy định của luật pháp đối với trường hợp này là mâu thuẫn với quy định tại khoản 2 Điều 91, theo đó ngoài phạm vi địa bàn hoạt động thương chính, cơ quan thương chính có trách nhiệm phối hợp hoặc chủ động phối hợp với các cơ quan nhà nước sở quan thực hiện các biện pháp phòng, chống buôn lậu, tải trái phép hàng hóa qua biên thuỳ.

Hơn nữa, trong Luật cũng đã có khái niệm địa bàn hoạt động thương chính (Điều 7) với các quy định khá rõ khuôn khổ hoạt động, quyền hạn, nghĩa vụ của lực lượng hải quan Giải trình vấn đề này, Bộ Tài chính cho biết, theo quy định của Luật Biển Việt Nam thì hải phận Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm đất liền thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán nhà nước của Việt Nam.

Về việc truy đuổi trên biển (Khoản 2 Điều 93), có ý kiến đại biểu cho rằng quy định tại khoản 4 Điều 91 thẩm quyền kiểm soát của cơ quan thương chính tại vùng tiếp giáp vùng biển là không khả thi và chồng chéo với các lực lượng khác trên biển như Cảnh sát biển, Biên phòng, Hải quân; quy định tại khoản 2 Điều 93 về việc Hải đội kiểm soát trên biển được dừng, truy đuổi dụng cụ vận chuyển nước ngoài trên vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm đất liền là chưa hợp với Luật Biển Việt Nam và mâu thuẫn với khoản 4 Điều 91 Dự thảo phân tách vấn đề này, Bộ Tài chính cho biết, theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Biển Việt Nam thì quốc gia thực hành kiểm soát trong vùng tiếp giáp hải phận nhằm ngăn ngừa và xử lý hành vi vi phạm luật pháp về thương chính, thuế, y tế, xuất nhập cảnh xảy ra trên bờ cõi hoặc trong vùng biển Việt Nam.

Bên cạnh đó, cũng có ý kiến cho rằng, khái niệm này cũng chưa liệt kê đầy đủ các hải phận thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam. Ví dụ: Luật hải quan Pháp, Luật thương chính Indonesia. Dự thảo cũng đã quy định khi cơ quan hải quan tiến hành truy đuổi thì đồng thời thông báo cho cơ quan chức năng (Công an, Quản lý thị trường,…) trên địa bàn biết để phối hợp ngăn chặn, xử lý là bảo đảm hợp nhất với quy định tại khoản 2 Điều 91 Dự thảo.

Thu Trang. Khái niệm “bờ cõi thương chính” quy định tại Khoản 25 Điều 4 Dự thảo Luật hải quan (sửa đổi) là phạm vi không gian mà Luật thương chính có hiệu lực ứng dụng, theo đó ngoài các khu vực trong lãnh thổ quốc gia còn có những khu vực thuộc quyền tài phán nằm ngoài lãnh thổ quốc gia như vùng đặc quyền kinh tế, thềm đất liền của Việt Nam.

Bên cạnh đó, quy định này còn là cứ pháp lý để đàm phán các vấn đề có liên can đến hải quan nhất là các khu vực mẫn cảm, chồng lấn với các nước đối tác và làm cứ để các cơ quan khác của nhà nước xử lý các vấn đề có liên hệ đến hải quan tại các khu vực không có địa bàn hoạt động hải quan hoặc các khu vực nằm ngoài bờ cõi quốc gia.

Các nội dung mà Bộ Tài chính tiếp nhận, chính lý quan điểm của UBTVQH bao gồm: Địa bàn hoạt động thương chính (Điều 7), Giám sát thi hành luật pháp (Điều 11), Hệ thống tổ chức hải quan (Điều 14), Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan (Điều 17), việc áp dụng cơ chế một cửa nhà nước (Điều 25, Điều 35), rà sau thông quan (Điều 79), áp dụng một số biện pháp nghiệp vụ của lực lượng hải quan để phòng, chống buôn lậu và ăn lận thương nghiệp (Điều 91, 92, 93)       Có 6 nội dung mà Bộ Tài chính giải trình, đó là: Khái niệm cương vực hải quan (Điều 4), nhiệm vụ của thương chính (Điều 12), hồ sơ thương chính, (Điều 24) xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan (Điều 28), nghĩa vụ phối hợp của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại cửa khẩu (Điều 35 và Điều 67), phạm vi trách nhiệm phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên cương (Điều 91, 93).

Khoản 2 Điều 93 Dự thảo Luật chỉ quy định về thẩm quyền truy đuổi, dừng công cụ chuyển vận; còn phạm vi hoạt động trên biển của cơ quan hải quan thực hành theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Dự thảo nên các quy định này không mâu thuẫn.

Do đó, khoản 4 Điều 91 Dự thảo luật quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc phẳng, kiểm soát trên biển tại vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp hải phận là cấp thiết và hạp với các quy định nêu trên, góp phần cùng với các lực lượng khác ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm luật pháp về hải quan xảy ra trên cùng biển, đảm bảo an ninh nhà nước và an ninh kinh tế.

Khái niệm này được kế thừa quy định của Luật hiện hành. Hơn thế nữa, quy định về “lãnh thổ thương chính” là quy định mà hồ hết các nước đều tuyển lựa để hợp nhất về quản lý hải quan của mình. Việc đấu tranh nhằm ngăn chặn có hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật hải quan cần phải được thực hành kịp thời, song song cần sự phối hợp đồng bộ của các lực lượng. Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 48 Luật Biển Việt Nam cũng quy định: phạm vi trách nhiệm cụ thể của các lực lượng văn bằng, kiểm soát trên biển thực hành theo quy định của pháp luật.

Lực lượng Hải đội 1 lạ, kiểm soát trên hải phận Đông Bắc của đất nước. Và việc truy đuổi tàu thuyền nước ngoài được quy định tại Điều 41 của Luật Biển Việt Nam.

Theo Luật biên thuỳ nhà nước thì biên cương quốc gia trên biển là ranh giới phía ngoài lãnh hải; Luật Biển Việt Nam quy định lĩnh vực thương chính là một trong những lĩnh vực mà quốc gia thực hiện quyền chủ quyền và quyền tài phán nhà nước.

Ảnh: Thịnh Hưng  Làm rõ khái niệm bờ cõi thương chính   Về ý kiến của đại biểu Quốc hội đề nghị cân nhắc nội hàm và sự cần thiết của việc giảng giải khái niệm “bờ cõi thương chính”, bởi khái niệm bờ cõi hải quan chỉ được quy định tại Điều 2 (phạm vi điều chỉnh) và giải thích tại Điều 4; một số điều khác có quy định can dự đến cương vực thương chính nhưng không bao hàm khái niệm “lãnh thổ hải quan” (Điều 7, Điều 9).

Giải thích vấn đề này, Bộ Tài chính cho biết, qua thực tiễn hoạt động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên thuỳ của cơ quan thương chính cho thấy, hoạt động buôn lậu, vận tải trái phép qua biên cương ngày càng được các đối tượng thực hành bằng nhiều biện pháp, mánh khoé tinh tướng, phức tạp. Quy định này không làm thay đổi địa bàn hoạt động hải quan quy định trong Dự thảo Luật.

Đồng thời khoản 1 Điều 47 Luật Biển Việt Nam cũng quy định "lực lượng phẳng, kiểm soát trên biển bao gồm các lực lượng có thẩm quyền thuộc Quân đội dân chúng, Công an quần chúng, các lực lượng kè, kiểm soát chuyên ngành khác". Vì thế, để nâng cao hơn nữa nghĩa vụ của cơ quan hải quan trong thực hiện nhiệm vụ gian buôn lậu, vận tải hàng hóa qua biên thuỳ, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm luật pháp hải quan, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này cần giao bổn phận chủ trì xử lý cho cơ quan hải quan đối với trường hợp cụ thể này.

Do đó, xin được giữ như Dự thảo.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét