"Thật" là sự thực, là đúng với cái đã có, đúng với việc đã xảy ra
Những lời mai mỉa, diếc móc ấy chỉ là do tức quá văng ra của kẻ từng là bị hại chứ không phải lời nói của "quan tòa". Tóm lại, Kiều nhấn mạnh cái hay, cái tốt của Hoạn Thư là đã nói đúng sự thực, nói ra chiều đáng phải nói. Thế thì không tin sao được! Còn câu 6 thì quá rõ: tính phổ quát chứ không phải chỉ riêng Hoạn Thư. Nêu lời nói của nàng Kiều như vậy để thấy: Nàng ôm mối hận rất lớn, lòng nàng sôi sục nỗi căm hờn, muốn báo thù mạnh mẽ kẻ đã gây ra thống khổ cho nàng.
Ở cặp câu thứ ba: " Lòng riêng riêng những kính yêu/ Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai ", Kiều vững chắc hiểu điều đó là sự thực, không phải lời nói "mép" của Hoạn Thư. Cảnh trong một vở kịch: Thúy Kiều Báo ân báo oán. Thử tìm "chứng cớ" xem sao? Về cái gọi là "tội ghen" thì từ xưa đến nay không thấy có luật pháp thành văn (và không thành văn) nào ghi rõ "tội ghen" và khung hình phạt của tội này mà chỉ có những hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội (do ganh) của đối tượng gây ra.
Ở cặp câu này thì "Ba quân. ) Mà xúc cảm đớn đau đến với họ. Đọc những phần thể hiện ở trên, phải chăng ta đã làm "thầy cãi", cãi hộ cho tội trạng của Hoạn Thư? Không! Ngay "quan tòa" Thúy Kiều làm cái việc xét xử, tuy rất cay cú, rất muốn phục thù mà cũng không kể tên được một tội trạng nào, đành mượn lối nói châm biếm, mai mỉa, nhiếc móc. Nàng cảm thấy các việc xảy ra (bắt cóc đưa về nhà Hoạn phu nhân rồi từ đó cho sang nhà Hoạn Thư) là do Hoạn Thư chủ mưu.
Theo lời tác giả (Nguyễn Du tiên sinh) kể thì Hoạn Thư nói với mẹ đẻ (Hoạn phu nhân) "Mưu cao vốn đã rắp ranh những ngày" và bàn rõ cách thức tiến hành ra sao. Việc nàng Kiều xét xử không chỉ có "Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư" mà còn có " Ba quân đông mặt pháp trường/ Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi ". " Không thể hiểu nổi nội dung chứa đựng những gì nhưng nàng Kiều thì hiểu rất rõ vì nàng là người trong cuộc (tự tình với Thúc Sinh, sau đó trốn đi mang theo "chuông vàng khánh bạc") mà Hoạn Thư là người chứng kiến, là người bắt quả tang, lại không tỏ thái độ gì.
Còn việc khổ đau, khóc lóc giữa hai người là do họ tự thấy lâm vào tình cảnh trớ trêu (là vợ - chồng cho nên con ở và ông chủ.
Kiều lại còn đánh giá về sự khéo léo cư xử đến mức độ ("Khôn ngoan đến mực") không ai biết, chỉ hai người trong cuộc biết với nhau (ý này đã phân tách rõ ở phần trên). Nàng hoàn toàn làm đúng chức năng của người chủ là khuyên bảo "đứa ở" của mình làm những việc cấp thiết. Điều đó có tức là người xét xử chẳng thể tự tiện muốn xử thế nào cũng được, muốn định tội ra sao cũng được! Muốn mọi người (Hoạn Thư, "Ba quân.
"Báo thù", "trả thù" là làm hại lại người đã làm hại mình. Trước mặt nàng Kiều, Hoạn Thư nói với Thúc Sinh " Rằng tài nên trọng mà tình nên thương/ Ví chăng có số giầu sang/ Giá này dẫu đúc nhà vàng cũng nên ". Thật là một sự đánh giá chính xác, khách quan! Điều thế tất sẽ đến là: "Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay".
Như vậy nói rằng Hoạn Thư ghen thì có ghen thật (" Từ nghe vườn mới thêm hoa/ Miệng người đã lắm tin nhà thì không/ Lửa tâm càng dập càng nồng ") nhưng trình diễn.
Hai câu này nói lên một sự thật hiển nhiên, không những nàng Kiều mà "Ba quân đông mặt" đều phải nhận vì đó là thường nhật, mọi người đều thế chứ không phải là điều đặc biệt gì của riêng Hoạn Thư. Vậy những "chứng cớ" nào định rõ được tội của Hoạn Thư? có nhẽ nàng Kiều (và người đời) nghĩ đến các tội sau: ghen, chủ mưu bắt cóc.
# Thế nào thì không có bằng cớ kết tội. "Quan tòa" không nêu ra được bằng cớ, tội trạng nào của "bị cáo" đành nghe "bị cáo" Hoạn Thư nói: "Rằng tôi chút phận đàn bà/ tị thì cũng người ta thường tình". Trong thâm tâm, nàng Kiều rất muốn xử tội Hoạn Thư - người đã gây bao khổ cực cho mình.
"Nên" là "đáng" (thí dụ: việc nên làm = việc đáng làm). Ta (người đọc) biết rõ sự chủ mưu đó là nhờ lời kể của tác giả chứ nàng Kiều làm thế nào mà biết được kẻ chủ mưu là Hoạn Thư! Có thể sau này "nghe người ta nói" thì biết nhưng "nghe hóng" không thể là chứng cứ được; kể cả khi Thúc Sinh về thăm nhà, Hoạn thư đã gọi nàng ra lạy mừng thì lúc ấy Kiều mới " giờ tình mới rõ tình/ Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai ".
Sang câu 3,4: "Nghĩ cho khi gác viết kinh/ Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo". "Nghĩ cho" là nhớ lại hộ việc đã xảy ra ở gác viết kinh (thật là khách quan!). Cái hay, cái khéo của Hoạn Thư không nói mình "nghĩ" (mang tính chủ quan) mà đẩy nàng Kiều "nghĩ cho", "nghĩ" ở đây là "nhớ" (Nghĩ người ăn gió nằm mưa xót thầm), "cho" là "hộ, giúp".
Hoạn thơ lại còn bắt nàng đánh đàn. "Khen" là nêu lên cái hay, cái tốt của người khác, ở đây là lời đánh giá về Hoạn Thư. Thế còn tội "sỉ nhục người khác" thì sao? Ta dễ dàng nhận thấy: Khi mở tiệc "tẩy trần", "giải sầu đêm thu", Hoạn Thư "Bắt nàng đứng trực trì hồ hai nơi" rồi "Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay" lại còn dọa: "Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn".
Nàng đã nói rõ điều này với Từ Hải: "báo đáp rồi sẽ phục thù" và nói với mụ quản gia, sư Giác Duyên "xin hãy rốn ngồi/ Xem cho rõ mặt biết tôi báo thù".
Có người cho rằng quyền ở trong tay, muốn làm gì mà chẳng được! Không phải vậy. Cớ đó là khen Hoạn Thư: "Khen cho: - thật đã nên rằng/ Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời ". Rồi để Hoạn phu nhân sai gia nhân (Khuyển, Ưng) làm, đánh thuốc mê rồi bắt Kiều về nhà phu nhân của quan bộ Lại.
Cố nhiên những cảnh huống ấy do Hoạn Thư tạo ra nhưng chẳng thể hạch sách, cáo buộc được. Lời đánh giá được nhấn mạnh thế nào? - "Thật đã nên rằng". Theo đúng tính chất phụ nữ (xin lỗi các quý bà, các quý phu nhân, các quý chị): "Tiểu thư cũng có bây chừ đến đây?" (đến nơi "Trướng hùm mở giữa trung quân") và " đàn bà dễ có mấy tay/ Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan ".
Và ô nhục người khác. ") "Tâm phục, khẩu phục" thì người xét xử phải định rõ được tội trạng, qua những "bằng cớ " và "lời cung". "Khen cho": từ "cho" là đứng sau một mệnh đề để nhấn mạnh vào một điều gì đó (tỉ dụ: xin hiểu cho, xin nhớ cho). Từ Hải mời những người có công với nàng Kiều để Kiều trả ơn và bắt những người có tội để nàng xét xử. Một lần, Thúy Kiều nói với Từ Hải: " Tấm thân rày đã nhẹ nhõm/ Chút còn ân oán đôi đường chưa xong " và kể về thế cuộc chìm nổi của mình.
Xem các cách đó, ta thấy Hoạn Thư không có thái độ, hành vi nào ô nhục người khác. Thế Hoạn Thư là kẻ chủ mưu thì sao? Vâng, đúng Hoạn Thư là kẻ chủ mưu. Tha thì vẫn tha nhưng phải có cái cớ nào đó. Đã gọi là "cảm thấy" thì cũng không thể lấy đó làm chứng cứ để định tội được.
Tám câu của Hoạn Thư vừa nêu trên là sự thật, là sự khôn ngoan của Hoạn Thư trước người xét xử là nàng Kiều, đặt người xét xử vào tình huống: tuyên phạt sao đây? Nếu chỉ có một vai là "quan tòa" thì nàng Kiều sẽ tuyên bố: "Không có chứng cứ nào định rõ tội của Hoạn Thư, "bị cáo" lại khai đúng sự thật, thái độ đúng mực bởi thế tuyên bố Hoạn Thư vô tội, phải tha ngay", nhưng tiếc thay bên cạnh vai trò "quan tòa" lại là vai "người bị hại" luôn "cảm thấy Hoạn Thư có tội" (như đã phân tích ở phần trên) nên không thể tuyên bố thẳng tay được.
Tiếng đàn làm cho "Người ngoài (tức Hoạn Thư) cười nụ, người trong (Kiều và Thúc Sinh) khóc thầm!".
Mong muốn thì như vậy nhưng việc trả thù lại không thể diễn ra dễ dàng tí nào. Kẻ hậu sinh này xin được thắp một nén nhang kính cẩn dâng lên Tố Như tiên sinh để tỏ lòng hàm ân Người đã để lại cho con cháu đời sau bài học sâu sắc về hai nhân vật phụ nữ: Hoạn Thư và Thúy Kiều, một bài học sâu sắc muôn đời phải ngẫm nghĩ, ngẫm suy trong những bước thăng trầm của mỗi cuộc thế chúng ta.
Nói đến "bằng cớ" là nói đến sự thực khách quan đã xảy ra, không phụ thuộc vào ý chủ quan của ai đó. Chính điều này càng làm ta không những thông cảm mà còn trọng sự hiểu biết, sự trung thực của nàng Kiều đã vượt qua sự tức tối cá nhân chủ nghĩa để coi trọng lẽ phải trên đời.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét